Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ: Nguồn gốc con Rồng cháu Tiên

Truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ

Ngày xửa ngày xưa, có một người tên là Lộc Tục, lấy hiệu là Kinh Dương Vương, làm thủ lĩnh ở vùng Lĩnh Nam.  Kinh Dương Vương có sức khỏe phi thường và có biệt tài đi lại dưới nước tựa như trên cạn.Một ngày nọ, trong chuyến dạo chơi ở hồ Động Đình, nhà vua gặp Long Nữ, con gái của Long Vương. Hai người đem lòng yêu mến nhau, rồi nên duyên vợ chồng. Không lâu sau, họ sinh được một người con trai và đặt tên là Sùng Lâm.Khi trưởng thành, Sùng Lâm lớn lên khỏe mạnh, chỉ cần một tay cũng có thể nhấc bổng tảng đá nặng. Giống như cha mình, chàng cũng có tài đi lại dưới nước.  Khi nối nghiệp cha, Sùng Lâm lấy hiệu là Lạc Long Quân.

Thuở ấy, đất Lĩnh Nam còn rất hoang vu, muông thú hoành hành, chẳng nơi nào được yên ổn. Thấy vậy, Lạc Long Quân quyết định đi khắp mọi nơi để giúp đỡ dân lành.Một hôm, chàng đến vùng biển Đông Nam và bắt gặp một con cá khổng lồ. Con cá này đã sống từ lâu đời, thân nó to như một quả núi, đuôi xòe ra tựa cánh buồm lớn, còn miệng thì rộng đến mức có thể nuốt chửng cả một chiếc thuyền. Mỗi lần nó quẫy đuôi, sóng biển lại nổi lên cuồn cuộn, làm đắm bao thuyền bè và khiến dân chài vô cùng khiếp sợ. Người ta gọi con quái vật ấy là Ngư Tinh. Nơi ở của Ngư Tinh là một hang sâu dưới đáy biển, phía trên là dãy núi sừng sững. Lạc Long Quân quyết định tìm cách trừ hại cho dân. Chàng tự đóng một chiếc thuyền lớn, chắc chắn, rồi chèo thẳng ra biển tìm Ngư Tinh. Khi đến gần cửa hang, chàng cất tiếng gọi to:

“Ngư Tinh kia! Mau ra đây cho ta hỏi chuyện!”Nghe tiếng gọi, Ngư Tinh nổi giận, lao ra khỏi hang, há to miệng định nuốt chửng Lạc Long Quân. Nhưng chàng nhanh trí và dũng mãnh đánh cho Ngư Tinh một trận tơi bời.
Cuối cùng, con quái vật phải quỳ Xiong xin tha. Lạc Long Quân giảng giải đạo lý, khuyên Ngư Tinh bỏ ác làm lành. Ngư Tinh hối lỗi, lui về hang sâu và từ đó không còn làm hại người dân nữa.

Sau khi trừ xong Ngư Tinh, Lạc Long Quân lại đi đến vùng Long Biên. Ở đây có lời đồn rằng, dưới chân ngọn núi phía tây có một con cáo chín đuôi đã tu luyện hàng ngàn năm và hóa thành yêu quái. Con Hồ Tinh ấy hằng ngày thường biến thành người, trà trộn vào làng xóm để dụ dỗ, bắt cóc phụ nữ và trẻ em đem về hang sâu ăn thịt. Từ vùng Long Biên đến núi Tản Viên, nơi nào cũng bị nó quấy phá, gây biết bao tai họa. Dân chúng sợ hãi, nhiều người phải bỏ ruộng đồng, nương rẫy, dắt díu nhau đi nơi khác sinh sống. Thương dân, Lạc Long Quân quyết tâm trừ hại. Chàng mang theo thanh gươm thần, một mình đến cửa hang của Hồ Tinh.

Vừa thấy bóng người, Hồ Tinh lập tức lao ra. Lạc Long Quân liền làm phép hô mưa gọi gió, sấm chớp vang trời, vây chặt con yêu hồ. Trận chiến kéo dài suốt ba ngày ba đêm, cuối cùng Hồ Tinh kiệt sức, quỳ xuống cầu xin tha mạng. Lạc Long Quân giảng giải đạo lý, khuyên nó bỏ ác làm lành. Hồ Tinh hối lỗi, thả hết những người bị bắt, lui về hang sâu và từ đó không còn hại dân nữa. Người dân vui mừng trở lại quê hương, cày cấy, làm ăn yên ổn.

Khi thấy nhân dân vùng Long Biên đã được yên ổn, Lạc Long Quân lại đi ngược lên vùng núi rừng Phong Châu. Ở đây có một cây cổ thụ nổi tiếng, người đời gọi là cây Chiên Đàn. Cây rất cao, cành lá sum suê, tán rộng che kín cả một vùng đất. Nhưng trải qua nhiều năm, cây dần khô héo, hóa thành yêu quái. Dân gian gọi nó là Mộc Tinh. Không giống những yêu quái khác, Mộc Tinh vừa hung ác, vừa quỷ quyệt. Nó không ở cố định nơi nào: hôm nay ở khu rừng này, ngày mai lại sang khu rừng khác. Mộc Tinh thường biến hóa khôn lường, ẩn nấp khắp nơi để rình bắt người qua lại mà ăn thịt. Đi đến đâu, Lạc Long Quân cũng nghe thấy tiếng khóc than thảm thiết của dân lành. Thương dân, chàng quyết tâm diệt trừ yêu quái để mang lại bình yên cho muôn người.

Chàng băng qua bao khu rừng, chịu biết bao gian khổ suốt nhiều ngày đêm, cuối cùng cũng tìm ra hang ổ của Mộc Tinh. Cuộc chiến giữa hai bên diễn ra dữ dội suốt trăm ngày trăm đêm, khiến trời long đất lở, khói bụi mịt mù. Cuối cùng, Mộc Tinh thua trận, quỳ xuống xin tha mạng. Lạc Long Quân giảng giải đạo lý, khuyên nó bỏ ác làm lành. Mộc Tinh hối lỗi, lui về rừng sâu, từ đó không còn hại dân nữa. Dân chúng lại được sống trong cảnh thanh bình, ấm no.

Sau khi trừ xong nạn yêu ma quỷ quái, Lạc Long Quân thấy người dân trong vùng còn nghèo khổ, thiếu thốn trăm bề. Họ không có quần áo mặc, phải dùng vỏ cây để che thân, lấy cỏ tranh kết thành ổ mà nằm ngủ.

Thương dân, Lạc Long Quân liền dạy họ trồng lúa nếp, chỉ cách dùng ống tre để nấu cơm, và dạy đốn gỗ dựng nhà sàn để tránh thú dữ nơi rừng sâu. Không chỉ vậy, chàng còn dạy họ đạo làm người: làm con phải hiếu thảo, anh em phải yêu thương nhau, sống hòa thuận và chăm chỉ lao động.

Cảm tạ công đức của Lạc Long Quân, dân chúng cùng nhau xây một cung điện trên đỉnh núi cao để thờ phụng chàng. Nhưng chàng không ở lại, mà thường trở về thủy cung để phụng dưỡng cha mẹ. Trước khi đi, chàng dặn dò dân chúng:

“Hễ ở trên này có điều tai biến, hãy gọi ta – ta sẽ lập tức trở về giúp dân!”

Khi ấy, Đế Lai nghe danh Lạc Long Quân là người tài giỏi, thương dân, bèn đem con gái lớn là Âu Cơ gả cho chàng làm vợ. Nhân dân gọi tên Lạc Long Quân, và chàng liền xuất hiện.
Lạc Long Quân đưa nàng Âu Cơ về cung điện trên núi cao – nơi dân chúng đã dựng sẵn – cùng chung sống hạnh phúc.  Một thời gian sau, nàng Âu Cơ mang thai và sinh ra một chiếc bọc lạ. Bảy ngày trôi qua, chiếc bọc ấy nở ra một trăm quả trứng, và từ mỗi quả trứng lại nở ra một người con trai.

Một trăm người con ấy lớn nhanh như thổi, ai nấy đều khỏe mạnh, khôi ngô và thông minh khác thường.

Thời gian cứ thế trôi qua, Lạc Long Quân và Âu Cơ sống hạnh phúc, đầm ấm bên đàn con ngoan. Thế nhưng, trong lòng Lạc Long Quân vẫn luôn canh cánh nỗi nhớ cha mẹ ở thủy cung. Một ngày kia, chàng nói lời từ biệt với Âu Cơ và trăm người con trai, rồi hóa thành rồng, bay vụt lên không trung, trở về với biển cả bao la.

Âu Cơ cùng đàn con tuy rất muốn đi theo Lạc Long Quân, nhưng vì không thể, nên đành buồn bã trở lại đỉnh núi.

Ngày qua tháng lại, mọi người đều mỏi mắt trông chờ mà vẫn chẳng thấy Lạc Long Quân trở về. Nhớ chồng da diết, Âu Cơ bước lên đỉnh núi cao, hướng về biển Đông mà gọi to:

“Bố nó ơi! Sao chàng mãi không về, để mẹ con thiếp sầu khổ mãi thế này!”       

Ngay lập tức, Lạc Long Quân xuất hiện.

Âu Cơ trách chồng:

“Thiếp vốn sinh ra nơi núi cao, động lớn, cùng chàng ăn ở, sinh ra trăm người con trai. Ấy vậy mà chàng nỡ lòng nào bỏ đi, để mẹ con thiếp khổ sở, bơ vơ thế này?”

Lạc Long Quân ôn tồn đáp:

“Ta vốn thuộc loài Rồng, còn nàng là giống Tiên, nên khó mà ở lâu dài cùng nhau. Nay ta sẽ đưa năm mươi con xuống miền biển, còn nàng dẫn năm mươi con lên miền núi. Chúng ta chia nhau cai quản muôn nơi. Người lên núi, kẻ xuống biển, nếu có điều gì nguy hiểm, hãy báo tin cho nhau để cùng giúp đỡ. Nàng hãy nhớ lời ta.”           

Nói chuyện xong xuôi, Lạc Long Quân và Âu Cơ cùng từ biệt nhau. Trăm người con của họ tỏa đi khắp nơi, trở thành tổ tiên của người Bách Việt – chính là người Việt Nam ngày nay.

Người con cả ở lại trị vì đất Phong Châu, lấy hiệu là Hùng Vương. Nhà vua chia đất nước thành mười lăm bộ, đặt quan Lạc hầuLạc tướng để cai quản. Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương.
Danh hiệu Hùng Vương được truyền nối từ đời này sang đời khác, tổng cộng mười tám đời vua Hùng.

Lạc Long Quân là người có công mở mang vùng đất Lĩnh Nam, đặt nền móng cho đất nước Việt Nam ngày nay, mang lại cuộc sống yên ổn cho nhân dân.  Còn các vua Hùng – con cháu của Lạc Long Quân và Âu Cơ – là những người tiếp tục dựng nước và giữ nước qua nhiều thế hệ.

Chính vì truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ, người Việt Nam luôn tự hào mình là con Rồng cháu Tiên, cùng chung một tổ tiên.

Hằng năm, toàn dân tưởng nhớ nguồn cội trong Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (mùng 10 tháng 3 âm lịch) – ngày hội lớn của dân tộc Việt Nam.

Nội dung Ngô Tố Trinh, Lê Kim Tiến

Giọng đọc Trần Diệu Hương

Video tạo bởi Giang Nguyễn

Bình luận

Thông báo của
guest
0 Góp ý
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận